Bình luận Quốc tế Phân tích thời sự và quan hệ quốc tế
Mới nhất Xem tất cả →

Donald Trump đã thất bại như thế nào trong cuộc chiến với Iran?

Mỹ vượt trội Iran về quân sự, nhưng sau nhiều tháng chiến tranh Trump

Trung Đông

Khi Donald Trump phát động chiến dịch quân sự nhằm vào Iran ngày 28/2/2026, tương quan lực lượng dường như nghiêng hoàn toàn về phía Mỹ và Israel. Washington vượt trội về không quân, tên lửa, tình báo và khả năng tấn công chính xác, trong khi Iran đang chịu sức ép nặng nề từ trừng phạt kinh tế, những tổn thất quân sự trước đó và bất ổn trong nước.

Trump vì thế có lý do để tin rằng một chiến dịch mạnh và nhanh có thể làm tê liệt sức mạnh quân sự Iran, đẩy lùi chương trình hạt nhân và thậm chí khiến chính quyền Tehran lung lay. Nhưng gần sáu tháng sau, Iran vẫn đứng vững, chương trình hạt nhân chưa bị loại bỏ, Tehran vẫn còn khả năng gây sức ép và cuộc chiến ngày càng tạo ra những chi phí lớn đối với chính nước Mỹ.

Thất bại của Trump vì thế không nằm ở chỗ quân đội Mỹ bị Iran đánh bại trên chiến trường. Vấn đề là Washington đã giành được nhiều thắng lợi quân sự nhưng vẫn chưa biến ưu thế đó thành những kết quả chính trị mà Trump mong muốn khi phát động chiến tranh.

Trump muốn gì khi phát động chiến dịch?

Muốn đánh giá một cuộc chiến thành công hay thất bại, trước hết phải xác định mục tiêu mà bên phát động muốn đạt được. Trong trường hợp Iran, những mục tiêu Trump đặt ra ngay từ đầu không hề khiêm tốn.

“Ngay từ khi phát động chiến dịch, chính quyền Trump xác định việc ngăn Iran tiến tới sở hữu vũ khí hạt nhân là một trong những mục tiêu quan trọng nhất.”

Các cuộc tấn công nhằm phá hủy hoặc làm suy yếu những cơ sở có liên quan tới chương trình hạt nhân, đồng thời buộc Tehran phải chấp nhận những giới hạn mà Washington mong muốn.

Mục tiêu thứ hai là làm suy yếu sức mạnh quân sự Iran, đặc biệt là kho tên lửa đạn đạo, UAV, phòng không và các năng lực có thể đe dọa Israel, căn cứ Mỹ cũng như các đồng minh của Washington trong khu vực. Với ưu thế áp đảo về không quân và khả năng tấn công tầm xa, Mỹ có đủ sức gây ra những thiệt hại mà Iran rất khó đáp trả theo cách tương xứng.

Nhưng tham vọng của Trump còn đi xa hơn việc phá hủy các cơ sở quân sự. Ngay khi chiến dịch bắt đầu, ông công khai kêu gọi người Iran đứng lên giành quyền kiểm soát đất nước. Cái chết của Lãnh tụ tối cao Ali Khamenei trong ngày đầu cuộc chiến càng củng cố kỳ vọng rằng một cú sốc quân sự đủ mạnh có thể làm hệ thống chính trị Iran rạn vỡ từ bên trong.

Tính toán này không hoàn toàn vô căn cứ. Trước chiến tranh, Iran vừa trải qua những cuộc biểu tình lớn, kinh tế gặp nhiều khó khăn và sự bất mãn đối với chính quyền tồn tại trong một bộ phận xã hội. Trump dường như tin rằng sức ép quân sự từ bên ngoài có thể trở thành chất xúc tác khiến những bất mãn ấy phát triển thành một phong trào đủ sức đe dọa chế độ.

Cuối cùng, tất cả những mục tiêu trên chỉ thực sự tạo thành một chiến thắng nếu Mỹ đạt được chúng với chi phí có thể chấp nhận được. Một cuộc chiến kéo dài nhiều tháng, tiêu hao kho vũ khí, làm giá năng lượng tăng mạnh và khiến Washington phải tiếp tục tìm kiếm một thỏa thuận với Tehran rõ ràng khác xa hình ảnh về một chiến thắng nhanh mà Nhà Trắng từng kỳ vọng.

Nếu lấy những mục tiêu này làm thước đo, khoảng cách giữa những gì Trump muốn và những gì ông có được ngày càng hiện rõ.

Hiện thực phũ phàng sau gần sáu tháng

Không thể phủ nhận Iran đã chịu thiệt hại quân sự rất lớn. Nhiều hệ thống phòng không, tàu chiến, kho tên lửa và cơ sở quân sự bị phá hủy hoặc hư hại. Các đánh giá của Mỹ từng cho rằng một phần đáng kể kho tên lửa Iran đã bị tiêu diệt chỉ trong những tháng đầu của cuộc chiến.

Đây là những thành công quân sự thực sự. Nhưng phá hủy nhiều vũ khí của Iran và buộc Iran chấp nhận mục tiêu chính trị của Mỹ là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Vấn đề hạt nhân là ví dụ rõ nhất. Sau nhiều tháng chiến tranh, năng lực hạt nhân Iran bị ảnh hưởng nhưng chưa bị loại bỏ. Tri thức khoa học, nhân lực, lượng uranium làm giàu và khả năng phục hồi chương trình vẫn khiến câu hỏi mà Trump muốn giải quyết khi bước vào cuộc chiến chưa có câu trả lời cuối cùng.

Thậm chí, chiến tranh còn đặt ra một nghịch lý khác. Nếu giới lãnh đạo Iran đi đến kết luận rằng chỉ sở hữu một năng lực răn đe hạt nhân thực sự mới có thể ngăn Mỹ và Israel tiến hành một cuộc tấn công tương tự trong tương lai, chiến tranh có thể làm động cơ sở hữu vũ khí hạt nhân của Tehran mạnh hơn thay vì yếu đi.

Sức mạnh tên lửa của Iran cũng bị tổn thất nặng nhưng chưa biến mất. Tehran vẫn giữ được khả năng tấn công các mục tiêu trong khu vực, gây sức ép lên những nước hợp tác với Washington và buộc Mỹ phải tiếp tục dành nguồn lực lớn cho phòng thủ.

Điều này cho thấy một khác biệt quan trọng giữa làm đối phương yếu đi và buộc đối phương phải khuất phục. Mỹ đã làm Iran yếu đi đáng kể, nhưng vẫn chưa khiến Tehran mất khả năng tiếp tục cuộc đối đầu.

Kỳ vọng về một cuộc nổi dậy bên trong Iran cũng không diễn ra theo cách Trump mong muốn. Chính quyền Hồi giáo không sụp đổ sau cái chết của Ali Khamenei mà nhanh chóng hình thành một bộ máy lãnh đạo mới, trong khi các lực lượng an ninh vẫn duy trì được khả năng kiểm soát đất nước.

Điều đáng chú ý hơn là chiến tranh đã không biến sự bất mãn của người dân Iran thành sự ủng hộ dành cho Mỹ. Một người Iran có thể phản đối chính quyền, bất mãn với giới giáo sĩ và mong muốn thay đổi chính trị, nhưng điều đó không có nghĩa người ấy sẽ ủng hộ việc một quốc gia bên ngoài ném bom đất nước mình.

Trump dường như đã đánh đồng hai tâm lý hoàn toàn khác nhau: bất mãn với chính quyền và sẵn sàng đứng về phía nước ngoài để lật đổ chính quyền đó. Trong nhiều trường hợp, chiến tranh từ bên ngoài thậm chí có thể tạo ra kết quả ngược lại, khi vấn đề bảo vệ đất nước tạm thời lấn át những mâu thuẫn chính trị nội bộ.

Quan trọng hơn cả, Iran đã không sụp đổ nhanh chóng như một đối thủ bị áp đảo về quân sự. Gần sáu tháng sau ngày chiến dịch bắt đầu, xung đột đã rơi vào thế giằng co, các nỗ lực ngoại giao không đem lại một thỏa thuận cuối cùng và Washington lại phải tăng cường sử dụng trừng phạt kinh tế để gây sức ép lên Tehran.

Nếu sức mạnh quân sự vượt trội là đủ để giải quyết vấn đề Iran, Mỹ đã không cần quay lại điểm này.

Trump đã không “biết người”

Trong Binh pháp Tôn Tử có câu “tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi”, thường được hiểu là biết người, biết ta thì trăm trận không nguy. Nhìn từ cuộc chiến Iran, sai lầm chiến lược của Trump có thể được giải thích khá rõ qua hai vế ấy: ông đánh giá sai cả sức chịu đựng của đối phương lẫn giới hạn của chính nước Mỹ.

Sai lầm đầu tiên là nhìn thấy một Iran đang suy yếu và cho rằng đó là một Iran sắp sụp đổ.

Những khó khăn của Tehran trước chiến tranh là có thật. Nền kinh tế chịu tác động của nhiều năm trừng phạt, người dân bất mãn, các cuộc biểu tình từng gây sức ép lớn lên chính quyền, trong khi mạng lưới đồng minh của Iran ở Trung Đông đã suy yếu đáng kể so với thời kỳ trước.

Nhưng một nhà nước gặp khủng hoảng không đồng nghĩa với một nhà nước mất khả năng tồn tại. Iran vẫn có Vệ binh Cách mạng, các lực lượng an ninh, bộ máy nhà nước và một hệ thống kiểm soát chính trị được xây dựng trong nhiều thập niên.

Trump dường như đã kỳ vọng rằng chỉ cần đánh đủ mạnh, những vết nứt bên trong Iran sẽ tự động mở rộng. Thực tế cho thấy một chế độ có thể không được lòng một bộ phận lớn dân chúng nhưng vẫn có khả năng tồn tại rất lâu nếu phe đối lập thiếu tổ chức, thiếu lãnh đạo thống nhất và không kiểm soát được các công cụ quyền lực của nhà nước.

Sai lầm thứ hai là đánh giá chưa đúng phản ứng của xã hội Iran trước một cuộc tấn công từ bên ngoài. Sự bất mãn với chính quyền Hồi giáo không đương nhiên khiến người dân coi Mỹ và Israel là lực lượng giải phóng.

Trong lịch sử, chiến tranh bên ngoài nhiều lần tạo ra hiệu ứng tập hợp quanh quốc gia, kể cả khi chính quyền đang bị phản đối. Những mâu thuẫn nội bộ không biến mất, nhưng chúng có thể tạm thời bị đẩy xuống phía sau khi xã hội cảm thấy chủ quyền và sự sống còn của đất nước bị đe dọa.

Đây là điểm rất dễ bị bỏ qua nếu chỉ nhìn Iran từ những cuộc biểu tình trước chiến tranh. Trump nhìn thấy những người xuống đường chống chính quyền và dường như cho rằng họ cũng sẽ ủng hộ hành động quân sự nhằm vào chính quyền ấy. Nhưng chống Tehran không đồng nghĩa với muốn Washington ném bom Iran.

Iran không cần đánh bại Mỹ

Sai lầm tiếp theo của Trump là đánh giá sức mạnh Iran chủ yếu bằng những tiêu chuẩn quân sự mà Mỹ vượt trội.

Nếu đặt hai quân đội cạnh nhau, khoảng cách là rất lớn. Iran không thể cạnh tranh với Mỹ về số lượng và chất lượng máy bay chiến đấu, tàu chiến, vệ tinh, tình báo hay khả năng tấn công chính xác tầm xa.

Nhưng Iran cũng không cần phải thắng một cuộc chiến theo cách đó.

Tehran không cần bắn hạ toàn bộ máy bay Mỹ hay đánh chìm các nhóm tác chiến tàu sân bay để đạt mục tiêu. Họ chỉ cần duy trì đủ năng lực tên lửa và UAV để gây tổn thất, đe dọa căn cứ Mỹ và các đồng minh, kéo dài cuộc chiến và khiến Washington phải tiếp tục bỏ thêm nguồn lực.

Đây là logic quen thuộc của một cuộc đối đầu bất đối xứng. Bên yếu hơn không cố đánh bại đối phương tại nơi đối phương mạnh nhất mà tìm cách biến ưu thế quân sự của đối phương thành một cuộc chiến ngày càng đắt đỏ.

Nếu Mỹ bước vào chiến tranh với yêu cầu phải đạt được kết quả nhanh, còn Iran chỉ cần tiếp tục tồn tại, hai bên thực tế đang sử dụng hai thước đo chiến thắng hoàn toàn khác nhau. Với Washington, mỗi tháng cuộc chiến kéo dài mà mục tiêu chính trị chưa đạt được là một vấn đề. Với Tehran, mỗi tháng chế độ còn đứng vững đã có thể được coi là một thành công.

Iran vì thế không cần phải đánh bại Mỹ. Họ chỉ cần ngăn Mỹ giành chiến thắng theo cách Trump đã hình dung.

Hormuz: lá bài chiến lược của Iran

Không đâu thể hiện rõ lợi thế bất đối xứng của Tehran hơn eo biển Hormuz.

Trước cuộc chiến, khoảng một phần năm dòng năng lượng toàn cầu đi qua tuyến hàng hải hẹp nối Vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương này. Saudi Arabia, UAE, Kuwait, Iraq, Qatar và nhiều nhà xuất khẩu năng lượng lớn đều phụ thuộc ở mức độ khác nhau vào Hormuz.

Iran nằm ngay bên bờ phía bắc eo biển.

Điều đó có nghĩa Tehran sở hữu một lợi thế mà Mỹ không thể phá hủy bằng bom: vị trí địa lý.

Iran cũng không cần đóng cửa hoàn toàn Hormuz mới gây được thiệt hại. Chỉ cần tạo ra đủ nguy hiểm bằng tên lửa bờ biển, UAV, thủy lôi, tàu nhỏ hoặc những vụ tấn công và bắt giữ tàu thương mại, các công ty vận tải và bảo hiểm đã phải tính lại rủi ro khi đưa tàu qua khu vực.

Khi nguy cơ tăng, phí bảo hiểm tăng. Khi tàu chở dầu giảm hoạt động, nguồn cung thắt chặt. Và khi thị trường bắt đầu lo sợ rằng một phần lớn dầu mỏ Trung Đông có thể không ra được thị trường, giá năng lượng phản ứng gần như ngay lập tức.

Đến cuối tháng 8, phần lớn lưu lượng qua Hormuz vẫn bị gián đoạn nghiêm trọng, trong khi Iran tiếp tục đe dọa những tàu không tuân thủ các yêu cầu của mình. Tehran thậm chí cảnh báo rằng nếu cuộc chiến kinh tế của Mỹ tiếp tục, họ có thể ngăn dầu xuất khẩu khỏi toàn bộ khu vực Vịnh Ba Tư.

Đây là một trong những nghịch lý lớn nhất của cuộc chiến. Mỹ có thể phá hủy một phần lớn hải quân Iran nhưng vẫn không thể bảo đảm rằng dầu sẽ đi qua Hormuz bình thường.

Sức mạnh của Iran ở đây không nằm ở việc họ có hạm đội mạnh hơn Mỹ, mà ở khả năng khiến việc duy trì tự do hàng hải trở nên ngày càng tốn kém và nguy hiểm. Tehran đã biến địa lý thành một loại vũ khí chiến lược.

Và vũ khí đó không chỉ gây tổn thất cho các nước Trung Đông. Nó đánh trực tiếp vào điểm nhạy cảm nhất của nền kinh tế toàn cầu: giá năng lượng.

Trump cũng không “biết ta”

Nếu Trump đánh giá thấp khả năng chịu đựng của Iran, ông dường như cũng đánh giá quá cao khả năng Mỹ tiến hành một cuộc chiến kéo dài mà không phải trả những chi phí lớn.

Sức mạnh quân sự Mỹ rất lớn nhưng không vô hạn. Nhiều loại vũ khí tạo nên ưu thế của Washington, từ tên lửa hành trình cho tới các tên lửa đánh chặn hiện đại, đều có giá rất cao và cần nhiều thời gian để sản xuất.

Một chiến dịch kéo dài không chỉ đặt câu hỏi Mỹ còn bao nhiêu tên lửa, mà còn đặt câu hỏi ngành công nghiệp quốc phòng có thể bổ sung chúng nhanh tới đâu. Việc Washington phải thúc đẩy những hợp đồng sản xuất vũ khí quy mô lớn trong quá trình chiến tranh cho thấy khả năng duy trì một cuộc chiến công nghệ cao kéo dài không phải vấn đề có thể xem nhẹ.

Quan trọng hơn, mỗi vũ khí được sử dụng tại Iran cũng là một vũ khí không còn nằm trong kho dự trữ cho những cuộc khủng hoảng khác.

Mỹ không chỉ phải đối phó với Trung Đông. Washington còn phải duy trì năng lực răn đe tại châu Âu, bán đảo Triều Tiên và đặc biệt là Tây Thái Bình Dương, nơi cạnh tranh với Trung Quốc ngày càng trở thành ưu tiên chiến lược dài hạn.

Một cuộc chiến Iran kéo dài vì thế tạo ra chi phí cơ hội. Ngay cả khi Washington đủ khả năng tiếp tục chiến đấu, cái giá không chỉ được tính bằng số tiền đã chi mà còn bằng những nguồn lực không thể sử dụng ở nơi khác.

Đây là giới hạn mà một phép so sánh đơn giản về quy mô quân đội Mỹ và Iran không thể hiện được.

Cuộc chiến quay trở lại nước Mỹ qua giá xăng

Sai lầm lớn khác trong tính toán của Trump nằm ở kinh tế.

Nếu Iran không thể đưa chiến tranh tới lãnh thổ Mỹ bằng sức mạnh quân sự thông thường, Hormuz lại cho phép Tehran đưa hậu quả của chiến tranh tới từng người tiêu dùng Mỹ.

Sau gần sáu tháng xung đột, giá xăng tại Mỹ đã tăng khoảng 60% so với thời điểm chiến tranh bắt đầu. Giá dầu cao không chỉ khiến người dân phải trả thêm tiền mỗi lần đổ xăng mà còn làm tăng chi phí vận tải, sản xuất và hàng hóa, từ đó tạo thêm áp lực lạm phát lên một nền kinh tế vốn rất nhạy cảm với giá năng lượng.

Điều này khiến chiến tranh Iran khác với một chiến dịch quân sự ở xa mà phần lớn người Mỹ chỉ nhìn thấy qua truyền hình. Hậu quả của Hormuz xuất hiện trực tiếp trong hóa đơn của các hộ gia đình.

Đây cũng là nơi sức mạnh quân sự và sức chịu đựng chính trị bắt đầu va vào nhau.

Một chính quyền có thể chấp nhận tiêu hàng chục tỷ USD cho chiến tranh nếu công chúng vẫn tin rằng mục tiêu đáng giá và chiến thắng đang đến gần. Nhưng khi cuộc chiến kéo dài, giá xăng tăng, lạm phát trở thành nỗi lo và mục tiêu cuối cùng ngày càng khó giải thích, sự ủng hộ của xã hội sẽ giảm.

Khảo sát Reuters/Ipsos giữa tháng 8 cho thấy tỷ lệ ủng hộ Trump giảm xuống 33%, mức thấp nhất trong nhiệm kỳ hiện tại, trong khi phần lớn người Mỹ lo ngại cuộc chiến Iran sẽ kéo dài. Điều này đặc biệt nhạy cảm khi nước Mỹ đang tiến gần cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11.

Iran vì thế không nhất thiết phải gây ra mức thương vong quân sự đủ lớn để buộc Mỹ rút lui. Tehran có thể đặt cược rằng thời gian, giá dầu và áp lực chính trị sẽ làm công việc đó.

Ai có thể chịu đựng lâu hơn?

Đây cuối cùng mới là bài toán khó nhất của một cuộc chiến hao mòn.

Mỹ mạnh hơn Iran rất nhiều về kinh tế, quân sự và công nghệ. Nhưng trong một cuộc chiến kéo dài, bên có tiềm lực lớn hơn không phải lúc nào cũng là bên có khả năng chấp nhận chi phí lâu hơn.

Đối với Tehran, sự tồn tại của chế độ là vấn đề sống còn. Nếu giới lãnh đạo Iran tin rằng nhượng bộ đồng nghĩa với mất quyền lực hoặc mở đường cho những yêu sách mới của Washington, họ có thể chấp nhận một mức tổn thất rất cao để tiếp tục chiến đấu.

Với Mỹ, vấn đề lại khác. Iran không đe dọa sự tồn tại của nhà nước Mỹ. Vì vậy, khi chi phí quân sự, kinh tế và chính trị ngày càng tăng, Washington sẽ liên tục phải trả lời câu hỏi liệu những mục tiêu còn lại có đáng để tiếp tục cuộc chiến hay không.

Đó chính là sự bất cân xứng về ý chí.

Trump có thể huy động nhiều máy bay hơn, nhiều tàu chiến hơn và nhiều tên lửa hơn Iran. Nhưng ông không thể ra lệnh cho người dân Mỹ ngừng quan tâm tới giá xăng, lạm phát, ngân sách hay thương vong.

Tehran hiểu rằng thời gian có thể trở thành một thứ vũ khí. Nếu Iran không bị đánh gục trong những tháng đầu tiên, cuộc chiến càng kéo dài thì câu hỏi về chi phí càng chuyển từ Tehran sang Washington.

Thắng nhiều trận nhưng chưa thắng được cuộc chiến

Vì vậy, nói chiến lược của Trump thất bại tại Iran không có nghĩa phủ nhận những thành công quân sự của Mỹ.

Quân đội Iran đã chịu tổn thất nặng. Nhiều hệ thống phòng không, tàu chiến, kho tên lửa và cơ sở quân sự bị phá hủy. Mỹ và Israel đã chứng minh khả năng xuyên thủng phòng thủ Iran và tấn công những mục tiêu nằm sâu trong lãnh thổ nước này.

Nhưng chiến tranh không được phát động chỉ để phá hủy mục tiêu. Hỏa lực quân sự cuối cùng chỉ là công cụ để buộc đối phương chấp nhận một kết quả chính trị.

Chính ở điểm đó, chiến dịch của Trump cho tới nay chưa đạt được điều ông mong muốn.

Chương trình hạt nhân Iran chưa bị loại bỏ. Chính quyền Hồi giáo không sụp đổ. Cuộc nổi dậy được kỳ vọng không xuất hiện. Iran vẫn có khả năng sử dụng tên lửa và các phương thức bất đối xứng để gây sức ép. Hormuz vẫn là một lá bài chiến lược trong tay Tehran, trong khi chiến tranh đã tác động trực tiếp tới giá năng lượng và đời sống của người Mỹ.

Sau gần sáu tháng, Washington lại phải dựa vào một chiến dịch trừng phạt kinh tế mới để buộc Iran nhượng bộ. Đó là dấu hiệu rõ nhất cho thấy ưu thế quân sự chưa thể tự nó giải quyết bài toán chính trị.

Nếu nhìn cuộc chiến qua lời Tôn Tử, Trump đã phạm sai lầm ở cả “biết người” lẫn “biết ta”. Ông đánh giá thấp sức chịu đựng của Iran, khả năng tồn tại của chính quyền và giá trị chiến lược của Hormuz; đồng thời đánh giá quá cao khả năng nước Mỹ tiến hành một cuộc chiến kéo dài mà không phải đối mặt với giới hạn về kho vũ khí, giá năng lượng và sự ủng hộ của công chúng.

Trump không thất bại vì Iran mạnh hơn Mỹ. Ngược lại, chính sự chênh lệch sức mạnh quá lớn có thể đã khiến Washington tin rằng một ưu thế quân sự áp đảo sẽ nhanh chóng tạo ra sự khuất phục về chính trị.

Nhưng Tehran không cần đánh bại quân đội Mỹ để phá vỡ chiến lược đó. Iran chỉ cần sống sót, tiếp tục gây sức ép và kéo dài cuộc đối đầu cho tới khi chi phí Washington phải trả ngày càng lớn hơn giá trị của những mục tiêu mà Trump vẫn chưa đạt được.

Đó có lẽ là nghịch lý lớn nhất của cuộc chiến Iran: Mỹ có thể thắng gần như mọi phép so sánh về sức mạnh quân sự, nhưng điều đó vẫn không bảo đảm rằng Donald Trump sẽ thắng được cuộc chiến mà chính ông đã lựa chọn phát động.

Bài liên quan